LTS: Gloria Steinem là nhà báo, nhà hoạt động nữ quyền hàng đầu người Mỹ, người giữ vai trò tiên phong và trở thành biểu tượng toàn cầu của phong trào nữ quyền làn sóng thứ hai vào cuối thập niên 1960 và 1970. Bà đồng sáng lập tạp chí nữ quyền mang tính đột phá Ms. vào năm 1972—ấn phẩm đầu tiên do phụ nữ làm chủ và điều hành, mang các chủ đề về quyền bình đẳng, tự do sinh sản và chống phân biệt phái tính/giới tình ra diễn đàn đại chúng. Với phong cách điềm tĩnh, lập luận sắc bén cùng tinh thần đấu tranh không mệt mỏi cho bình đẳng giới và quyền dân sự, bà đã dành trọn đời mình để vận động, viết sách và diễn thuyết nhằm xóa bỏ rào cản bất bình đẳng trên toàn thế giới.
Gloria Steinem qua đời ngày 2 tháng 9, 2026 tại nhà riêng ở New York.
Khi bạn đủ may mắn để sống lâu, như tôi, vai trò của bạn là nhắc nhở mọi người về quãng đường dài mà chúng ta đã vượt qua.
Tôi luôn luôn nói rằng tôi trở thành nhà văn để khỏi phải nói chuyện. Nhưng một khi bắt đầu viết về những kinh nghiệm cá nhân, khá ngạc nhiện là tôi lại nhận được nhiều lời mời diễn thuyết tại các khuôn viên đại học hay các tổ chức phụ nữ. Tôi biết đó là việc quan trọng phải làm, nên tôi bắt đầu đi diễn thuyết thường xuyên cùng các bạn đồng hành tại Hoa Kỳ và nhiều quốc gia khác để phổ biến thông điệp về cuộc vận động của phụ nữ toàn cầu.
Rốt cuộc, sau khi đi qua nhiều vùng đất và đối mặt với nhiều vấn đề, tôi nhận ra mình đã trở thành một nhà tổ chức đi rong ruổi nay đây mai đó. Đó là một nghề nghiệp nghe lạ, nhưng thực ra lại rất giản dị. Những nhà tổ chức quan sát thế giới, nhìn thấy những triển vọng của thế giới, và góp phần biến điều đó thành hiện thực. Khi nhìn lại cuộc đời mình, tôi thấy những kinh nghiệm ấy đã hướng tôi đến việc tự tạo con đường riêng cho mình.
Tôi học được rất nhiều về nữ quyền trong vài năm sống tại Ấn Độ sau khi tốt nghiệp đại học vào thập niên 1950. Thời gian sống tại quốc gia này khi vừa giành độc lập đã giúp tôi nhận ra phần lớn thế giới không sống như chúng ta tại Hoa Kỳ. Tôi nhận ra sự đơn sắc đáng sợ ở những người trong vòng quen thuộc, cũng như người da trắng chỉ là một nhóm thiểu số trên thế giới. Tại Ấn Độ, tôi làm quen với sự đa dạng về chủng tộc, và bắt đầu trân trọng điều này.
Những nhà hoạt động xã hội mà tôi gặp ở Ấn Độ hầu hết là những người theo chủ nghĩa Gandhi. Tôi làm việc, đi học và đồng hành cùng họ qua nhiều làng mạc. Tôi thấy họ thật lôi cuốn- những con người tử tế, cởi mở, ôn hòa và không hề có tư tưởng dân tộc chủ nghĩa. Tôi cho rằng về mặt văn hóa, phụ nữ thường có thiên hướng bất bạo động. Có lẽ vì chúng ta là những nạn nhân chính của bạo lực, nên chúng ta trở thành người đi đầu trong việc kêu gọi hòa bình.
Mãi sau này tôi mới nhận ra những năm tháng đó đã ảnh hưởng đến điều mà tôi coi là tinh thần nữ quyền của mình ngày nay. Nhưng có lẽ chúng ta không nên gọi đó là “nữ quyền” (feminism). Những người khác thích dùng chữ “womanist” hay “mujerista” hay “nhà phóng phụ nữ.” Dù tên gọi là gì, những từ ngữ đại diện cho sự bình đẳng luôn bị lên án từ phía những kẻ hưởng lợi từ sự bất bình đẳng. Sự phản đối luôn đến từ những người mà quyền lực của họ dựa vào nhóm xã hội mà họ sinh ra—cho dù đó là giới tính, chủng tộc, giai cấp hay sắc tộc—thay vì những gì họ làm với tư cách cá nhân. Điều này tồn tại bởi vì họ tin vào sự phân bậc đẳng cấp xã hội và lo sợ điều không hay sẽ xảy ra nếu họ mất những lợi thế có sẵn. Và đó là một điều đáng buồn, bởi vì họ có thể sẽ chẳng bao giờ biết họ thực sự là ai cũng như họ thực sự muốn làm gì trong đời.
Đối với tôi, việc tuyên bố mình là một người theo chủ nghĩa nữ quyền luôn đồng nghĩa với việc tôi tin vào sự bình đẳng về xã hội, kinh tế và chính trị của tất cả nam giới và nữ giới thuộc mọi chủng tộc và cộng đồng. Tôi biết điều này nghe có vẻ quá đơn giản đến mức không cần phải dùng đến một từ ngữ riêng biệt, nhưng sự bình đẳng hiện vẫn là ngoại lệ chứ chưa phải là quy luật.
Có lẽ chúng ta nên gọi đó là chủ nghĩa bình đẳng (egalitarianism), hay chủ nghĩa nhân bản (humanism). Vấn đề của chủ nghĩa nhân bản là thường hay bị diễn giải thành chống tôn giáo, nên tôi không nghĩ từ ngữ này có thể tóm gọn mọi khái niệm. Dù gọi bằng bất cứ tên gì, điều đó đơn giản chỉ là đối xử với mỗi người như một cá nhân riêng biệt. Những kinh nghiệm về chủng tộc, giới tính và giai cấp là điều có thật và quan trọng, nhưng chúng cũng do con người tạo ra và có thể thay đổi. Còn tính nhân bản trong mỗi chúng ta thì nhất quán và thiêng liêng không ai đụng chạm tới được.
Gloria Steinem (cầm biểu ngữ) và Bella Abzug (thứ hai từ phải sang) cùng các nhà hoạt động nữ quyền tuần hành qua Quảng Trường Times Square đế phản đối ngành công nghiệp khiêu dâm, khẳng định ngành này bóc lột phụ nữ, chà đạp phẩm giá và kích động bạo lực đối với phụ nữ. Cuộc tuần hành hơn 5,000 người, bao gồm sinh viên đại học và người dân cộng đồng đã đi qua những cửa hàng bán sách báo và các rạp phim khiêu dâm nhập nhạng ánh đèn dọc theo Đường 42.
Vậy mà đối với một số người, việc tại sao phụ nữ lại cần một phong trào để khẳng định những nỗ lực hướng tới bình đẳng vẫn là chuyện khó hiểu. Với tôi, điều đó hết sức rõ ràng. Trước hết, phụ nữ gánh vác phần lớn công việc trên thế giới nếu tính cả lao động có trả lương và không trả lương, nhưng họ chỉ nhận được khoảng một phần ba tổng thu nhập lao động toàn cầu, và sở hữu chưa đến 20% đất đai trên toàn thế giới. Phụ nữ cũng có nguy cơ mù chữ, chịu đói khát, trở thành nạn nhân của nạn buôn người hoặc bị người thân trong gia đình sát hại cao hơn nhiều so với nam giới. Và không giống như hầu hết các quốc gia dân chủ khác, Hoa Kỳ chưa từng có nguyên thủ quốc gia là nữ giới.
Khi tôi viết những dòng này, thế giới dường như đang trong vòng xoáy hỗn loạn. Nhiều người cảm thấy mọi tiến bộ chúng ta giành được đều đang bị đảo ngược. Khi bạn đủ may mắn để sống lâu, như tôi, vai trò của bạn với tư cách một người cao tuổi là nhắc nhở mọi người về quãng đường dài mà chúng ta đã vượt qua.
Trong đời sống chính tôi, phụ nữ bị vô hình hóa, ở nơi công cộng và ngay cả trong ngôn ngữ. Tôi còn nhớ những lần các nhà báo nam giới vốn rất chu đáo, khi nhìn vào một phòng đầy phụ nữ, đã thông báo: “Ở đây chẳng có ai cả.” Hoặc khi tôi cùng những người phụ nữ khác có một ý kiến nào đó, cách duy nhất để chúng tôi lên tiếng là nhờ người đàn ông ngồi bên cạnh phát biểu thay.
Mọi người thường hỏi tôi: Chúng ta nên làm gì? Không một cá nhân nào có thể đưa ra câu trả lời chung cho tất cả. Tôi sẽ nói rằng chúng ta phải cùng nhau hoạt động để bảo đảm những luật lệ và tập quán bình đẳng trở thành điều bình thường. Dù có nhiều cách thể hiện bên ngoài, những bước tiến lớn nhất lại là những chuyển biến bên trong chính bản thân mỗi người. Việc đứng lên bảo vệ nhân phẩm trọn vẹn của chính mình là một thí dụ bạn có thể trao cho người khác. Hãy mang sự bình đẳng vào nơi làm việc và gia đình bạn—và hãy đi theo cảm nhận về sự công bằng bạn từng có khi còn là một đứa trẻ, trước khi các quy định về giới tính định hình.
Chúng ta đã chứng kiến những bước tiến vượt bậc, nhờ vào hàng triệu phụ nữ và thiếu nữ—cùng nhiều nam giới và thanh thiếu niên—đã đứng lên vì sự bình đẳng. Nhờ phong trào này, hầu hết mọi người trên thế giới ngày nay đã chứng kiến những người phụ nữ là phi hành gia, những nhà tổ chức công đoàn và nông dân, những người giải phóng và kiến tạo hòa bình. Nhờ những người phụ nữ đã tụ họp để nói lên sự thật, bên bàn ăn bếp nhà hay bên giếng nước góc làng, những người đã hoạt động trong các cuộc bầu cử địa phương hay tại Liên Hiệp Quốc, mà chủ nghĩa nữ quyền—hay bất kỳ từ ngữ nào khác diễn đạt sự bình đẳng của con người—đã được công nhận rộng rãi như một điều kiện tiên quyết của dân chủ, phát triển kinh tế, đời sống tâm linh và hòa bình.
Vì vậy, hãy đối xử với mọi phụ nữ như một con người trọn vẹn và bình đẳng, như hoặc là khuyến khích mẹ bạn thực hiện những gì bà ước mơ từ lâu, hay không kỳ vọng bạn gái phải nấu ăn cho bạn. Chỉ khi những hành động phát xuất từ mỗi chúng ta, chúng ta mới thấy được sự bình đẳng đã trở thành một sự kiện đích thực trong đời sống.
Nguồn: Gloria Steinem’s Final Essay
The New Yorker, September 3, 2026
]]>
Tháng chín, rừng đã cháy.
Thế giới trở nên im lặng.
Im lặng là điều tôi nhận ra trước hết khi đi qua vùng rừng núi vừa bị lửa tiêu hủy. Không có tiếng chó sủa, không nhìn thấy những con chồn chạy băng qua đường khi bạn lái xe trên xa lộ lên phía Bắc. Không có tiếng chim hót. Bây giờ là mùa thu, những đàn ngỗng trời Canada sẽ bắt đầu bay về phương Nam, tiếng của chúng kêu vang mặt nước. Mới đây thôi, năm ngoái, năm kia, bây giờ tôi không nhìn thấy chúng. Không nhìn thấy nai và hươu, mèo rừng và gấu, không nhìn thấy sự sống ở đâu cả. Sau những cuộc cháy rừng lớn, tôi thường lái xe dọc bờ biển Mỹ và Canada, thăm những rừng đã cháy, nghĩ về chúng, nhớ ký ức tươi đẹp.
Tất cả mọi nỗi buồn đều chịu đựng được, nếu bạn đem kể cho người khác. Không phải ai cũng biết cách kể câu chuyện của mình, hầu hết không. Nhưng những câu chuyện làm nên một lịch sử khác, một hiện thực khác. Như vậy câu chuyện mà bạn kể lại không chỉ là ký ức về đời sống mà là sự kiến tạo một đời sống khác, nhân ái hơn hoặc tàn bạo hơn. Con người liên tiếp vấp phải những sai lầm do người khác tạo ra và do chính mình tạo ra. Đó là những cơ hội để bạn nhìn lại, thức tỉnh. Người nào biết nhìn lại và thức tỉnh, người đó sẽ đi xa hơn trên con đường của mình.
Sainte-Beuve dan díu với vợ của Victor Hugo.
Tycho Brahe chết vì vỡ bàng quang trong một đêm uống quá nhiều rượu, say xỉn.
Nhà thơ Auden nổi tiếng có lần bị cảnh sát bắt giữ vì vạch quần đi tiểu trong một công viên ở Barcelona.
Igor Stravinsky: âm nhạc của tôi được trẻ con và gia súc hiểu rõ nhất.
Ta chưa từng nghe có một lão già nào quên mất chỗ cất giấu tiền bạc của mình trước khi chết, Cicero nói.
Đó là những câu nhảm nhí hay đầy ý nghĩa, tùy bạn. Khi nhìn một khu rừng vừa cháy xong, bao giờ tôi cũng nghĩ đến đất nước. Ký ức không bắt đầu với các sự kiện mà với những linh cảm về các sự kiện ấy. Vào sáng hôm nay, khi tôi vừa thức dậy, chuẩn bị bữa ăn sáng, mối quan hệ của tôi với quá khứ thay đổi. Những khung cảnh trong quá khứ diễn ra đẹp hơn khi tôi nhớ lại, những đứa trẻ chạy nhảy trên sân chơi, câu chuyện bên hàng rào với người hàng xóm, trở nên đẹp hơn, không phải vì chúng giả tạo mà vì ký ức khi đi xuyên qua thời gian nhận lấy thứ ánh sáng đã chiếu lên ngày hôm ấy nhưng tôi không nhận ra. Tôi hiểu rằng những sự kiện không phải như tôi nghĩ về chúng mà là một phần của những mối liên hệ sâu xa. Trên Netflix tôi theo dõi cuốn phim dài có tên Everwood, kể về một bác sĩ chuyển từ New York về thôn quê, từ bỏ công việc phẫu thuật thần kinh để làm bác sĩ gia đình sau cái chết của người vợ, và tôi nhận ra rằng tình yêu mà người ta dành cho nhau, tình bạn mà người ta dành cho nhau, không chỉ gồm những lời âu yếm mà còn cả lời cay nghiệt. But they didn’t mean it. Vì tất cả chúng ta đều bị tổn thương, không ngoại lệ.
Chín giờ sáng ngày 2 tháng 9 năm 1945, một khu trục hạm cập vào chiến hạm Missouri trong vùng vịnh Tokyo yên tĩnh. Bộ trưởng Ngoại giao Nhật Bản Shigemitsu, với một chiếc chân giả, hậu quả của một vụ đánh bom trước đó, theo sau là đại tướng Umezu, thay mặt Nhật Hoàng, bước lên chiếc Missouri. Đại tướng MacArthur chờ sẵn bên một chiếc bàn. Nghi lễ giản dị, không có quân nhạc và vòng hoa chiến thắng, việc ký văn kiện đầu hàng diễn ra mau lẹ. Có mặt các đại diện của Canada, Anh, Pháp, Úc, Liên Xô, Trung Hoa Dân Quốc, Hà Lan, Tân Tây Lan. Sáng hôm đó những người thất trận rời khỏi chiến hạm Missouri không biết tương lai của họ về đâu. Mười lăm năm sau, với sự bảo trợ hào phóng của Hoa Kỳ, nước Nhật chiến bại trỗi dậy như một cường quốc kinh tế và văn hóa.
Thế giới trở nên trong suốt, dù tàn lửa chiến tranh vẫn còn lả tả chân trời.
Trong khi đó, hơn năm mươi năm sau cuộc chiến, khuôn mặt người Việt đôi khi vẫn lấm lem tro bụi.
Tháng tám âm lịch, tôi nhớ trăng trung thu, nhớ đất trời bàng bạc xám trắng, không vui, không buồn, kẻ đi xa bồn chồn trong dạ, đêm nằm nghe tiếng sấm chớp, nhớ con vịt kêu vang bờ lau lách ngoài vườn. Nghĩ đến các em ở nhà cắp sách vào trường, nhớ lại hình ảnh mình, chú bé tung tăng ngày nào, cái bếp than lửa hồng mẹ bắc ngoài hiên, những người giúp việc ngồi chung quanh, cảnh luộc ốc đêm trăng, người ta dùng những cái tăm để lôi con ốc ra chấm vào nước mắm gừng ăn với ớt xanh cay xé ruột. Trăng đẹp đến thế là cùng, con người yêu nhau đến thế là cùng. Những kỷ niệm ấy tôi thường nhắc lại mãi trong bài viết của mình không phải chỉ vì lòng hoài niệm mà còn hơn thế nữa. Chúng ta đã từng, chúng ta xứng đáng trở lại. Bằng cách nào thì tôi không biết, nhưng dân tộc phải trở lại với cái buồn lãng mạn và tình tứ của mùa thu. Với mùi bưởi tháng tám thơm lừng của mẹ tôi, mời nhau một miếng uống với nước chè xanh mà các dì tôi từ Gio Linh mang vào biếu, ngày thanh bình của Đệ nhất Cộng Hòa. Giữa đất trời hạnh phúc như thế, bạn đứng dừng lại, nếu nhìn xuống đất thì sẽ gặp một màu sương khói, ban đêm mở cửa ra thì thấy trăng tròn vành vạnh. Bạn có ghét cuộc chiến tranh nồi da xáo thịt thì nó cũng đã xảy ra rồi, ngồi mà trách quá khứ thì quá khứ cũng không sửa được. Vua Trần Hậu Chủ có ngồi khóc vì cái cảnh bên kia sông, cách giang, quân địch đã tới, mà bên này sông vẫn còn tiếng hát Hậu Đình Hoa, thì đã nước mất nhà tan mà người đẹp Trương Lệ Hoa cũng đã chết. Thôi anh làm thế này: cho anh nhìn vào mắt em mà thấy vầng trăng thu ngời sáng. Sống trong một xã hội ngạt thở, nói gì cũng sợ có người nghe, viết gì cũng sợ có người đọc, bức màn treo cửa rung động vì gió hay vì lời thị phi, nào ai biết. Sống như thế, tôi phục các bạn của tôi, phải nhẫn nhịn lắm. Người tha hương càng nhớ càng thấy lá trầu thì tươi mà mây thì xanh, mà môi em đỏ quá, nhớ cảnh năm bảy thằng bạn rủ nhau ra quán bến đò Thạch Hãn, say không phải vì rượu, vì thời ấy chưa biết uống, mà vì hơi thu thấm lạnh phả vào hồn.
Ngày 11 tháng 9 năm 2001, khi tôi đang ở trong khoa cấp cứu bệnh viện, có một điều gì xảy ra, mọi người bỗng im bặt. Tôi ngước nhìn màn vô tuyến truyền hình. Những ngọn lửa hừng hực, mây đen vần vũ, người tất tả chạy ngược xuôi. Chuyến bay American Airlines 11 rời Boston và dự trù sáu giờ sau sẽ đáp xuống Los Angeles nhưng giữa đường nó đổi hướng bay về New York. Nó mang theo một lượng lớn nhiên liệu lao vào tòa tháp đôi World Trade Center. Từ một phi trường khác, chiếc United Airlines 175 cũng lăn bánh trên phi đạo. Một phụ nữ thắt dây lưng an toàn, rút điện thoại di động và nhắn tin cho đứa con gái lúc ấy đang đi bộ từ nhà tới trường: con yêu, mẹ đã lên máy bay, mọi việc tốt đẹp, mẹ rất nhớ con. Sau ngày 11 tháng 9 ấy, thế giới thay đổi. Sẽ không dừng lại, ngọn lửa hận thù được châm ngòi từ chủ nghĩa khủng bố cực đoan.
Ngày 25 tháng 9 năm 1818, cuộc truyền máu đầu tiên được thực hiện bởi bác sĩ James Blundell ở bệnh viện Guy’s, London. Từ đó, nhân loại được cứu chuộc. Sau những ngày đi xa tôi trở về, ngồi ở cuối vườn. Mùa thu bắt đầu, trời nhiều mây, có một điều gì khác nữa. Sự ở một mình, sự lùi lại. Thu liễm, vắng và lạnh, tựa như đời sống dọn về một góc riêng biệt. Đối với tôi, đó là sự chuyển đổi, sự chuẩn bị, sự đi vào bên trong. Thiên nhiên bên ngoài thì thay đổi, kế tiếp nhau lẫn lộn, như tính chất trữ tình của văn chương, vốn không phải nằm trong tính âm nhạc của nó như có người lầm tưởng. Tính chất trữ tình xuất hiện khi chúng ta rơi vào một khoảnh khắc dường bất tận. Các phần của tiểu thuyết có những mối liên hệ mật thiết với nhau về cốt truyện và nhân vật nhưng các khoảnh khắc trữ tình của tiểu thuyết thì độc lập. Đó là những suy nghĩ của tôi khi viết. Mặc dù những khoảnh khắc trữ tình thường ngắn, dày đặc, đặc điểm của nó là một kinh nghiệm đối với sự vật, điều này dẫn đến tình trạng tỉnh thức vượt ra khỏi những ràng buộc của chủ đề, văn cảnh và hành vi của nhân vật. Sự quên mình đi để lâm vào một khoảnh khắc, hóa thành hiện hữu bây giờ, đó là trò chơi nghệ thuật, không khác với một đứa trẻ trong trò chơi của nó, quên mình đi cho cái hồi hộp hiện tại.
Vừa có chỗ không đáng dựa vào mà dựa vào, thì tiến thoái đều có ăn năn. Chỉ vì trong lòng thành thật, dù có lúc phạm lỗi cũng sẽ hanh thông. Cuối mùa hạ có một con ong bay về, rồi mùa thu trái chín, rồi đến một ngày bạn bỗng nhiên nhìn thấy cái khúc quanh ấy, tựa như lá vàng rào rào, cơn mưa rầm rập, trí nhớ sáng lên. Vào lúc ấy mọi hành động dừng lại, bạn cần một không gian cho riêng mình, một thời gian của xúc cảm cá nhân. Bạn ngồi yên, thu mình lại trong áo ấm, trước tách trà nóng, bên cửa sổ hay cuối khu vườn tàn tạ, và bạn nghĩ. Bạn chỉ nghĩ thôi và không làm gì cả: đó chẳng phải là thời gian tuyệt đẹp sao. Nếu mùa hè là nơi chúng ta nhìn thấy ý chí của mình thì mùa thu là nơi bạn nhìn lại mình như một người đi trên đường phố, nhác thấy bóng trong gương. Tự hỏi: tóc mình đã bạc thế này ư, cái nếp nhăn ấy có từ bao giờ, bạn cũ đâu hết rồi. Thế bạn đã từng muốn gì trong cuộc đời? Đã làm được bao nhiêu? Khi bạn nghĩ tức là lúc bạn tưởng tượng.
Tháng chín, mùa tựu trường. Thời trẻ tôi yêu tháng chín, gió mát, mây mỏng, tiếng trống trường rộn rã, sân chơi. Niềm yêu thích công việc, yêu thích việc thực hiện bổn phận và hoàn tất chúng mỗi ngày, đặt chúng ta vào trạng thái yên tĩnh có phần kỳ lạ. Đó là sự yên tĩnh dịu dàng của kỷ luật, của các khuôn mẫu, của việc hình thành tính cách. Tôi trở lại với mình, có thêm cái bóng đổ dài của tình yêu. Tình yêu sâu như một ý nghĩ, nhẹ như hơi thở, như lời nhắc nhở từ phía sau. Tháng chín sôi nổi trở lại, những hội thảo y học, liên hoan điện ảnh, những sách mới, sự sôi động không ai nhìn thấy bên trong các bức tường của lớp học nơi chúng tôi ngồi sát vào nhau vì lớp học thời ấy đông quá. Tôi bao giờ cũng ngồi ở dãy sau cùng phía gần lối đi, từ năm tiểu học đến trung học đều thế. Đó là nơi thầy giáo và cô giáo thường đứng tựa vào tường để nhìn cả lớp, và sau khi bọn trẻ cắm cúi ngồi làm bài, tôi thường đưa mắt liếc nhìn người đứng bên cạnh, mắt tôi nhìn ngang thắt lưng. Tôi nhớ cái thắt lưng bằng da nâu đã sờn của người thầy năm học lớp năm, chỗ xẻ đôi của tà áo dài trắng toát của cô giáo năm lớp sáu. Đôi khi quên cả làm bài tập, tôi lắng nghe tiếng quạt máy quay rì rào trên trần, nhớ một nhân vật trong Bông hoa rừng của Lan Khai. Có thể bạn còn một cơ hội khác. Sau khi đã mất tất cả, có thể bạn còn cơ hội thứ hai. Sau khi một người đàn bà bỏ đi, có thể bạn sẽ gặp lại nàng, sau ba mươi năm. Không một ai muốn viết bài ai điếu cho tình yêu của mình. Một con chim sẻ bay vù qua khoảng sân rộng. Lúc tôi nhìn thấy một chiếc lông của nó rơi xuống, tôi nhìn thấy thời gian và chạnh lòng nghĩ rằng rồi có lúc tôi sẽ từ bỏ. Nếu không được nuôi dưỡng bằng sự mơ mộng, tuổi mới lớn không còn nữa, con người đi thẳng từ một cậu bé thành người đàn ông, với tất cả những khả năng sống sót, chiếm đoạt, ngoi lên và bị đạp xuống, và cuối cùng nắm giữ quyền lực và học cách thao túng. Giai cấp mới với bàn tay sắt làm được một việc: tước bỏ tâm hồn một dân tộc.
Mùa này miền Trung vẫn còn nóng ấm, đôi ngày hơi se lạnh. Đất trời như có sợi tơ mỏng bay ngang, mang cả số phận của bạn mà đi. Một loài chim gì rất lạ kêu gần mặt nước, nước dâng lên, cá về nhiều hơn khi trời trở gió. Mẹ tôi sai người giúp việc chất đầy củi quanh nhà bếp. Thời chiến tranh chưa lan rộng, người ta đi rừng gánh củi về bán, những bó củi muồng, củi sim cao ngất cột bằng lạt thật chặt, gánh bằng cái đòn sóc có hai đầu nhọn hoắt. Sáng sớm khi trời còn tối, mẹ tôi thắp cái đèn dầu ở bếp, sửa soạn những mâm, những lọ, những thẩu làm dưa cải. Hàng cây sầu đâu ngoài đường rụng hết lá, nhưng hàng chè xanh thì vẫn còn xanh mướt. Tôi ra đến ngoài sân, mẹ tôi còn chạy theo bắt mặc thêm áo ấm. Trăng mùa thu đẹp nhất. Ở Canada còn gọi là trăng mùa gặt hái. Trong trăng, có mùi hương dịu nhẹ của lúa mì, lúa mạch, bắp và đậu, mùa màng thu gặt xong, những cuộn cỏ lớn tròn lăn đi. Thời thơ ấu của tôi là thời chiến tranh, tôi chỉ được vài năm ăn tết trung thu, cầm đèn lồng đi dạo khắp xóm, rồi sau đó chạy giặc liên miên. Đèn trung thu là cái gì mà làm cho trẻ con yêu thích đến thế. Đèn lồng hình tròn, đèn con thỏ, đèn xếp, đèn ngôi sao, có cây nến nhỏ ở bên trong. Ba tôi đã từng hứa làm cho tôi cái đèn lồng kéo quân, vì ông vốn khéo tay, thế mà chưa kịp làm thì tôi đã vội lớn, vội ra khỏi cõi mộng mơ của đời mình, chưa kịp bày cỗ ăn trung thu ngoài sân thì tiếng đạn đại bác đã bay ngang đầu, nổ xé nát một thửa ruộng dưa, làm vỡ cái lu đựng nước mưa của người đàn bà mới về nhà chồng, nửa đêm đi tiểu ngồi phía sau nó, vì thời ấy ở thôn quê không có nhà vệ sinh riêng. Buổi sáng hôm sau, tôi nhặt được một cánh tay của chị trong đám cỏ tranh cao ngất. Người Việt yêu các lý tưởng đến đâu? Những ảo tưởng còn dẫn dân tộc vào vòng nô lệ đến bao giờ?
Mùa thu đọc sách. Người xưa lên núi hái hoa. Núi và sách thanh tẩy tâm hồn tôi, giọng nói của nhà văn vang bên tai tôi, thấu hiểu và tha thứ, kể lại cho tôi câu chuyện đầy khó khăn và nhầm lẫn. Những cuốn sách và tập thơ mà tôi ưa thích bao giờ tôi cũng đọc lại nhiều lần. Đây là sự hài hước u mặc của Ted Kooser:
She will take out her glasses, and there in the bookstore
she will thumb over my poems, then put the book back
up on its shelf. She will say to herself
“For that kind of money, I can get my raincoat cleaned.” And she will.
Bây giờ người ta đọc tất cả mọi thứ, trừ những cuốn sách. Mùa thu đối với tôi là không gian. Đó là nơi mọi chương sách mở ra. Những khung cảnh. Khung cảnh của câu chuyện không phải chỉ là các dụng cụ sân khấu. Khung cảnh là câu chuyện và các nhân vật. Ý nghĩa của một không gian là mối liên hệ của nó với các nhân vật. Khi bạn nhìn thấy một khung cảnh hay không gian trong câu chuyện, bạn nhìn thấy xuyên qua giọng kể, nhờ thế bạn chìm đắm trong không gian ấy, đi lại ở đó. Tôi nghe nói rằng ở những vùng miền Bắc và miền Nam có những ngày hội vào dịp tháng chín và tháng mười như hát quan họ ở Bắc Ninh, hát ghẹo, hát chầu văn. Tôi đã một lần được dự một đám hát chầu văn như vậy, nghe tiếng đàn nhị, đàn kìm, và những thứ đàn kỳ lạ chưa bao giờ nghe nói tới. Đêm về khuya trăng càng sáng, càng thấp như lòng người ly biệt. Tháng tám âm lịch, trăng sáng rồi có lúc tàn, nhưng em ơi đám cỏ mùa thu cháy trên đồng vẫn còn ngọn lửa đỏ. Chúng tôi ngồi quanh, kể chuyện, hò hát, uống whiskey, Tây có ta có, vui với cái hiện tại, làm cho đầy tâm thức của mình sự hiện hữu của bây giờ. Phía xa có tiếng súng săn trong rừng. Một con vật vừa bị bắn hạ trước họng súng. Chúng tôi im lặng. Lát sau, tôi quay lại người bạn bên cạnh, nói nhỏ:
Xin chia buồn về sự mất mát của bạn.
Khi bạn yêu một người, mỗi giây phút chứa đầy ánh sáng và bóng tối. Khi người ấy mất đi, ly biệt, bóng tối lấp đầy không gian. Bạn chìm đắm vào bóng đen, chìm mãi. Cho đến khi dòng nước chảy xiết chạm tới, hất tung bạn lên trên mặt nước, vì thế nào dòng nước xiết ấy cũng chảy tới. Trong thời gian chờ đợi, sự cô độc là hình phạt. Bạn phải trả giá cho hình phạt ấy, không một người nào không trả giá cho đời mình. Sự thương tiếc và các tang lễ khác nhau như thế nào. Tang lễ có đông người. Bạn chỉ thương tiếc một mình. Bạn đi với nó, và giờ đây sự thương tiếc trở thành người bạn kín đáo, bí mật, kiên nhẫn và chung thủy, nó sẽ đưa bạn ra khỏi cửa rừng của cánh rừng than khóc.
Bạn sẽ trở lại.
Bạn trở lại trong một quán cà phê giữa những người khác, bên một đống lửa giữa những người khác, những người đã từng mất mát như bạn giờ đây đã trở lại, trên cánh đồng mùa gặt mới xong, nơi những đống cỏ cao ngất dành cho ngựa ăn được cuốn lại thành từng bó lăn đi. Như nước chảy mãi mà không đầy, kẻ có lương tri dù có rơi vào chỗ hiểm ác cũng không mất lòng tin của mình. Khoan thai mà không trễ nải. Làm được thật khó. Mềm mại ở chỗ trung chính. Giao thiệp rộng rãi mà vẫn cương quyết giữ lòng mình. Sấm sét nổi lên thì chạnh lòng mà thứ lỗi cho kẻ khác, chẳng phải ta đi tìm trẻ thơ, mà trẻ thơ đi tìm ta. Hiểm mà động, động mà ra khỏi chỗ hiểm, thì đó là phúc lớn của dân tộc. Hiểm mà bất động, vì bất động nên mãi lui tới chỗ hiểm, là họa của dân tộc. Nhân dân như người vợ lẽ thời phong kiến, người không biết nghĩ thì hớn hở vui cười, kẻ biết nghĩ thì buồn rầu trong dạ, phẫn uất mà không có chỗ tiết. Mặt trời thì vàng, mặt trăng thì khuyết, đất trời trống rỗng, có gì mà vui?
Bạn đến đây để chống lại mọi sự mong đợi và tạo ra hoàn cảnh khác. Bạn đến đây để nói những lời không ai nói, bạn đến đây để nuôi dưỡng cảm xúc về một thế giới mà bạn đã nhìn thấy, nhưng không ai nhìn thấy, ngay cả khi điều đó chỉ là sự tưởng tượng. Có những ngày bạn bị thương tổn, như một hy vọng bị đập vỡ. Bạn lớn lên trong một thế giới mà ở đó mọi giá trị là những thứ có thể đo lường được: kiến thức, địa vị, tiền bạc, các mối quan hệ. Bạn dần dần từ bỏ những ao ước từ bên trong, từ lâu bạn không còn lắng nghe tiếng nói của chúng, đã từ lâu bạn từ bỏ ý thức làm người tự do. Con người tập quen dần với cách sống nô lệ, sự sợ hãi đối với cấp trên và các mệnh lệnh thoạt đầu khiến bạn phẫn uất và chống lại nhưng điều ấy làm bạn phải trả giá, về sau bạn học được sự khôn ngoan và cuối cùng bạn trở thành người bảo vệ cho nó, cái hệ thống ấy dìm bạn xuống, trói tay bạn, và đút vào miệng bạn những thức ăn ngon nhất trần thế. Mặt khác những người cực đoan không nhìn thấy bạn ở trong đó. Họ nghĩ rằng bạn đã chết, nhưng bạn không. Mô tả một việc trong hiện tại dễ hơn là trong quá khứ, nhưng một hiện tại quyến rũ thì khó viết hơn. Mỗi truyện ngắn, bài thơ hay tùy bút mà tôi viết bao giờ cũng đến từ một thứ gì đó. Khi tôi ngồi xuống và viết, ngay khi tôi không có một ý tưởng nào cả, thì một điều gì đó sẽ tới. Chúng không bao giờ tới lần đầu tiên mặc dù có vẻ như vậy. Tôi đã từng nhiều lần nhìn thấy chúng nhưng không để ý. Sự mô tả của một nhà tiểu thuyết làm cho người đọc trở thành kẻ tham dự vào câu chuyện.
Tháng chín, mẹ tôi nhìn trời và nhìn đất. Trong khu vườn nhỏ của mình ở Canada bây giờ, tôi chuẩn bị cắt tỉa cây ăn trái và hoa. Sau khi thu hoạch lê và táo, ổi và cam, cây bắt đầu rụng lá. Mùa này hoa hồng đã tàn, oải hương đã được phơi khô, tử đinh hương đã héo. Tôi dùng một cái kéo lớn để cắt cành tỉa cây. Trên những cây bạch dương sau nhà chim gõ kiến bắt đầu trở lại kêu inh ỏi từ năm giờ sáng, ánh sáng xuyên qua những đám mây chiếu mờ mờ trên mặt cỏ đã bắt đầu xơ xác, trên ký ức của một người đàn ông đã bắt đầu tuổi già. Mùa thu đã tới. Tuyết còn lâu mới rơi. Chúng tôi ghé thăm một người bạn vừa qua đời vì chứng bệnh ung thư ngực. Trong vườn của chị nhiều cây lá vẫn còn xanh. Đó là một khu vườn gần rừng. Một con hươu chạy qua hàng rào. Trong vườn ấy, chúng tôi đứng rất lâu cho đến khi có một con sóc hiện ra. Nó tỉnh bơ leo xuống khỏi nhành cây và bắt đầu ăn một trái cà chua, xé từng miếng nhỏ, vừa ăn vừa phá. Tôi hái một trái cà chua lau sơ trên vạt áo sơ mi, không rửa, cho vào miệng, ăn tất cả. Nước ngọt ứa ra chảy ròng ròng trên má tôi, ướt cả vạt áo sơ mi. Tôi đứng im như thế, lặng lẽ ăn trái cà chua trong khu vườn cũ của người bạn. Đôi khi vào buổi chiều tôi băng qua cánh đồng, những con thỏ từ trong bụi rậm nhảy ra, tôi bắt đầu học cách làm quen với chúng, và nhét đầy túi áo khoác những thức ăn, bắp và đậu. Con người đã làm cho các động vật được thuần hóa như chó và mèo nhưng bỏ lại những con vật khác chưa kịp thuần hóa. Để chinh phục lòng tin của chúng cần phải học phương cách. Tôi đã thấy một người bạn ngồi im trên tảng đá đưa tay ra và lập tức một con chim xanh sà xuống. Tôi đã tập nhưng không làm thế được. Điều gì đã làm cho tôi và bạn tôi khác nhau? Vẻ mặt, phong thái, cách đứng, cách ngồi, sự điềm tĩnh. Có thể một điều gì sâu xa hơn thế nữa mà tôi không quan sát được: tình yêu bất tận trong trái tim. Sự bao dung, lời xin lỗi, sự tha thứ.
Bạn phải sẵn sàng một lần nữa đem bàn tay của mình đặt vào bàn tay của thế giới. Tất cả các cuộc cách mạng đều sai lầm không phải vì chúng sai lầm mà vì bao giờ, sớm hay muộn, chúng sẽ bị khuất phục bởi những kẻ cơ hội. Tôi yêu những nhà văn không giống ai, họ chỉ ra sự tầm thường của con người, viết những điều tôi chưa từng đọc bao giờ. Tôi yêu những người viết câu văn sáng láng, đẹp và khắc nghiệt, buồn rầu. Sự khám phá ở họ, giữa những chữ, gần như bất tận. Đôi khi bạn quay lại, giọng nói của nhà văn biến mất, chỉ còn những ấn tượng mơ hồ, bạn không biết là gì nhưng bạn không quên được. Tôi đọc một người, và tôi tin rằng tôi đọc những điều họ viết về tôi. Cái gì làm cho một nhà văn trở nên hấp dẫn? Giọng nói, không giống ai, bắt buộc bạn phải lắng nghe. Một tác giả lớn làm tôi thích viết, không phải viết như họ, mà như chính tôi.
Buổi sáng, sau một đêm mưa.
Chim trên cành bay hết
Đêm mưa bể nước đầy
Đó là mấy câu thơ tôi viết, khi lần đầu được viết chữ trên giấy, sau rất nhiều ngày không được cầm tờ giấy nào trên tay, ở trại tị nạn Nong Chan, một trại tị nạn khủng khiếp.
Hôm trước, tôi vừa bị đánh.
Trong khi chúng tôi đứng sắp hàng trước nhà vệ sinh buổi sáng, một người lính áo đen đi ngang qua nhìn thấy một tờ nhật báo rơi dưới đất ngay trước cửa phòng vệ sinh. Anh ta nhặt lên và nhìn thấy bức hình hoàng hậu Thái Lan trên trang nhất. Chúng tôi bị bắt quỳ, tên lính dùng báng súng đập túi bụi lên đầu chúng tôi. Lát sau nhiều tên lính khác đến. Tôi đưa hai tay che đầu. Tôi gãy xương khuỷu tay trái, nhưng tay mặt vẫn còn viết được. Tôi viết:
Kẻ một thời đi biệt
Cúi đầu nhìn mây bay
Rồi bỏ lửng việc làm thơ ở đó cho đến mười bốn năm sau, khi tôi gặp một cuốn sách của Mary Oliver trong quán cà phê trước trạm xe điện ngầm ở Toronto, khi tôi ra về sau một đêm trực sản khoa. Bài thơ thuở ấy:
Anh không thể lấy em
Xin em đừng giận
Nhưng anh có thể nhỏ lại
Lăn dài trên lá sen
Ngày mai anh không thể chết
Nhưng có thể biến mất
Như bụi mù trên đường
Bên bờ rào tử đinh hương
Anh tìm được một vật
Đã cắt đứt tình yêu chúng ta.
Mọi vật đều có một mùa. Đây là mùa đen tối. Tháng chín tôi đến Las Vegas. Tôi yêu thích sự ồn ào nông cạn của nhân loại. Niềm vui vô tư xa hoa của nhân loại có sức hấp dẫn riêng đối với tôi. Chúng làm cho bọn chúng ta quên đi thân phận con người. Rượu và ánh sáng, sắc đẹp và tình dục, tiền bạc và vận may, cười và khóc, tất cả đều có ở Las Vegas. Tất cả mọi sự điên rồ đều được bộc lộ. Nơi một đất nước bị vây hãm như một thành phố bị quân giặc vây hãm trong chiến tranh thời trước, không có một cuộc cách mạng nào bắt đầu. Ở Las Vegas, tôi gặp lại một người bạn học cũ ở viện đại học Toronto, học chung môn nhiệm ý, ngày trước thân thiết. Khi tôi bước vào căn phòng của anh ta theo lời mời hôm trước, anh ta nằm trên giường bắt tay tôi và trò chuyện liên hồi. Rượu vang đỏ đổ một vệt dài trên sàn nhà. Hắn không thể ngồi dậy được vì đang nằm trong chăn và khỏa thân.
Sáng nay tôi nhìn thấy một con ong bay trong vườn. Nó bay thật chậm, không hối hả, vì hoa và mật ít đi, hoặc vì không có những con ong khác bay xung quanh, nó bay nhẩn nha. Mùa xuân, ong bay hớn hở, mùa hè ong bay rối rít nhưng mùa thu chúng bay chậm, như có như không. Mọi thứ đều trở nên cô độc: con chồn chạy một mình qua bãi hoang, dế chui vào hang sâu, gấu về bên kia núi. Một mình không phải là chuyện dễ dàng, chúng ta trở lại làm quen với nơi chốn cũ của chúng ta, cuốn sách đọc giữa chừng đã lâu. Trên một tảng đá, có một cái vỏ rắn, của một con rắn mà tôi không biết. Chúng ta lột bỏ những sắc màu của chúng ta, thành kiến của chúng ta, sự tự tin vững chãi của chúng ta. Chúng ta vất bỏ những chân lý mà chúng ta khư khư bám lấy, ném chúng xuống đất và dẫm chân lên, vì mọi sự đều tàn tạ, mọi lá đều chết, chúng ta bắt đầu lại. Bắt đầu một mình.
Ngày 6 tháng 9 năm 1991, thành phố Leningrad lấy lại tên của nó là Saint Petersburg. Bao giờ đến lượt Sài Gòn? Tôi không biết. Tháng 9, 2026, bàn chuyện phá Hồ Gươm.
Những gì không thể chạm tay vào
Chúng đều chạm tay vào
Cào sạch cát trên sông, đổ bê tông các cánh đồng
Nhưng chúng cũng xây những ngôi nhà khác
To hơn, đúng thế
Chúng cũng trồng những hàng cây khác
Cao hơn, có điều gì chúng không làm được?
Đào núi, lấp hồ, đốn cây, phá đền, dời tượng
Trong đêm tối bỗng trồi lên dinh thự nguy nga
Những màn nhung êm ái lướt qua
Những cánh cửa sơn xanh và
Sơn đỏ, tím, hồng lòe loẹt
Vợ chồng con cái chúng ta cười ríu rít, dọn vào
Tới khi nhận ra
Thì quá muộn
Ngày 6 tháng 9 năm 1976, Vũ Hoàng Chương qua đời sau một thời gian ngắn được thả về từ trại giam. Năm 2026 kỷ niệm 50 năm ngày ông mất. Ông sinh năm 1916 ở Nam Định, là một nhà thơ quan trọng của văn học Việt Nam thế kỷ XX. Đó là một nhà thơ lạ thường, của tình yêu và tình dục, say đắm mà không trụy lạc, phóng đãng mà không mê mị.
Mười hai tháng sáu ừ đây nhỉ
Tố của Hoàng hơi Tố của anh
Nỗi buồn sâu xa đến đâu mà khiến cho lòng ta chìm xuống, vô lực, chấn thương tan tác. Chúng ta dành nhiều thời gian để kể lại câu chuyện của mình và lắng nghe câu chuyện của người khác. Tôi muốn sống cuộc đời giản dị và lặng lẽ, không quan tâm nhiều lắm đến các sự kiện. Nhưng thật khó khăn để làm được điều ấy. Tôi ngưỡng mộ những người thản nhiên thực hiện nhiệm vụ của mình, hoàn thành công việc đến nơi đến chốn, tôi thích những người hành động, tôi ghen với họ. Hạnh phúc đôi khi tựa như giấc mơ và trong giấc mơ ấy tôi nhìn thấy trăng sáng, bè bạn cũ, gió mát mùa xuân thổi trong tay áo. Bạn đã từng có những ngày như thế. Dòng suối mùa xuân không tự chảy ra từ trái tim của một người, nó ứa ra từ vách đá cheo leo, trong mây mù. Người làm thơ dựa vào thiên nhiên, áp tai vào tường, lắng nghe tiếng động của dòng nước ấy. Mọi thứ xảy ra trong đời bạn đều có một nơi chốn. Những ngày mưa bão có vai trò của chúng, cũng vậy sự ghét bỏ. Sự đoàn tụ và sự chia tay đều quan trọng như nhau, cũng vậy sự chết và sự sống. Sự hài hước trong thơ Bùi Giáng, tính bỡn cợt của ông là một thứ nước mắt kiểu khác, chảy xuống những bi kịch của con người và của dân tộc. Đó là thơ của đời sống bây giờ, lúc này, giữa những người sống đương thời. Năm 2026, một trăm năm sinh Bùi Giáng.
Em có định sẽ cùng ai kể lể
Một nỗi đời hư huyễn giữa chiêm bao
Vừng hiu hắt nguyệt hờn mây nhỏ lệ
Một mùi hương nồng tụ ở nơi nào
Hầu hết thơ Bùi Giáng ca ngợi vẻ đẹp của trần gian, sự vui thú của tình yêu, cái đẹp dịu dàng của người nữ. Đối với tôi thơ ông là cảm xúc về cái hiện tại, về linh cảm số phận của mỗi người, là sự kêu gọi giao tiếp. Đó là một thẩm mỹ hậu hiện đại đi trước thời gian, nhưng không phải hoàn toàn là chủ nghĩa hậu hiện đại phương Tây. Trong một ngôn ngữ dị thường như có như không, ngôn ngữ của ông đi sâu vào mặt đất, tìm thấy trong chiều sâu ấy những phẩm tính của đời sống, đi sâu vào đêm tối để tìm thấy niềm vui của ngày mai, vứt bỏ chủ nghĩa hiện thực nô bộc. Trong kho tàng bất tận của niềm vui, nỗi buồn, một tâm hồn ngây thơ kỳ lạ xuyên suốt qua các vỉa tầng của kiến thức nhân loại, thấu suốt chúng nhưng không dừng lại ở đó. Đời sống không toàn vẹn, sự hỗn loạn và nghi ngờ bày ra khắp chốn.
Rainer Maria Rilke:
It is good to love: because love is difficult.
Sáng tôi thức dậy sớm, nằm im trong chăn. Đó là thời gian tôi hoàn toàn tự do. Tôi nhớ một người bạn thân đã mất. Khi bạn mất một người thân, một người đã từng là phần đẹp đẽ nhất của đời bạn, hãy nhớ rằng mọi thứ đều không tự nhiên sinh ra hay biến mất. Chúng được chuyển đổi thành những thứ khác mà bạn không nhìn thấy. Thế giới là những vòng tròn lặp lại. Điều mà bạn đánh mất hôm nay, điều mà bạn than khóc, thương tiếc, điều ấy sẽ chuyển thành thứ khác. Một người đã mất, một tình bạn đã đến lúc chia tay, một tình cũ ngoái lại. Chúng có thể không còn lại trong đời bạn, nhưng sự thương xót của họ, nỗi buồn và niềm vui của họ, giấc mơ của họ vẫn còn ở lại trên thế gian này, ở quanh ta. Cảm xúc của họ vẫn còn ở với bạn. Bởi vì bạn chưa bao giờ mất một người bạn đã mất, người ấy vẫn còn trong sự thương nhớ, trong giấc mơ, trong cơn mưa buổi chiều, trong mặt trời lên buổi sáng, trong tiếng động đầu ngày, trong tiếng âm nhạc của mặt đất mà tôi đang lắng nghe. Năng lượng của họ trở về với bạn trong cuộc đời này. Bạn chưa bao giờ đánh mất hoàn toàn, bạn có những điều ấy xung quanh mình. Tôi tung chăn ngồi dậy. Tôi đặt tay lên ấm nước, cảm thấy mùi của kim loại, tôi nghĩ về nước, nước tôi uống là nước từ đầu nguồn sông Fraser chảy về. Tôi chuẩn bị pha trà và làm bữa ăn sáng.
Nguyễn Đức Tùng
]]>Người già trong làng Bàu Trúc kể rằng đất sét bên sông Quao không phải đất bình thường. Đó là thứ đất đã từng nằm dưới chân những thành quách Champa đổ nát. Từng hứng máu chiến binh, từng giữ tro cốt của những người chết không chịu rời quê hương mình. Bởi vậy, mỗi lần nhồi đất làm gốm, phải nói chuyện với đất. Nếu không, đất sẽ nhớ. Thứ gì biết nhớ thì sớm muộn cũng biết đòi lại.
Thuở nhỏ, Acar Harei thường nghe mẹ nói như vậy. Mẹ anh là nghệ nhân làm gốm ở Bàu Trúc. Một người đàn bà nhỏ thó, da đen sạm vì nắng, quanh năm ngồi giữa đất sét, rơm khô và khói lửa. Những buổi chiều mùa hạn, khi gió từ đồng cát thổi về trắng trời, Harei ngồi phụ mẹ gánh đất từ bờ sông Quao. Mẹ anh kể chuyện Po Klong Garai, chuyện Po Rome, chuyện những vị vua đã mất nước mà vẫn còn đi lại trong gió. Lúc ấy anh cười. Trẻ con thường tin vào tương lai hơn là tin vào hồn ma.
Sau này lớn lên, học đại học ngành văn hóa ở Sài Gòn, đọc sử, đọc khảo cổ, đọc nhân học, anh lại càng ít tin hơn. Lịch sử trong sách khác hẳn lịch sử trong lời kể của mẹ. Một bên đầy số liệu. Một bên đầy linh hồn. Ra trường, Harei trở về Phan Rang.
Người ta giới thiệu anh vào Phòng Văn hóa. Lương không cao. Đủ sống.
Đủ để anh và Jaya lấy nhau, cô gái làng Mỹ Nghiệp ấy cưới anh, nổi tiếng dệt hoa văn đẹp nhất trong nhóm thợ trẻ. Jaya có đôi bàn tay nhỏ. Mỗi lần ngồi bên khung cửi, những sợi chỉ nhiều màu chạy qua tay cô mềm như nước. Harei thường ngồi nhuộm sợi giúp vợ. Những tối mất điện, hai vợ chồng đốt đèn dầu, tiếng baoh karang lanh canh vang lên giữa sân, hòa cùng tiếng chó sủa xa xa ngoài đồng. Lúc ấy, anh cảm thấy đời sống giống một tấm thổ cẩm. Những đường chỉ đỏ, chỉ đen, những nút thắt rất khó nhìn thấy. Chúng đều đang âm thầm giữ lấy nhau. Anh không biết rằng một ngày nào đó, chính mình sẽ trở thành một nút thắt.
*
Năm ấy, Ninh Thuận bắt đầu bước vào cơn sốt du lịch. Những đoàn xe sang nối đuôi nhau đổ về phía biển. Những khoảnh đất trước kia chỉ dùng để chăn dê bỗng tăng giá từng ngày. Những người chưa từng nghe tới Bàu Trúc hay Mỹ Nghiệp nay cũng bắt đầu biết đến hai vùng đất ấy khi chúng xuất hiện trên bản đồ quy hoạch. Giới đầu tư liên tục nhắc về chúng, nhắc về tương lai, về những khoản vốn hàng ngàn tỷ đồng, về các khu nghỉ dưỡng đạt chuẩn quốc tế. Họ nói bằng một sự tự tin gần như tuyệt đối, cứ như tương lai đã nằm sẵn trong tay từ rất lâu rồi.
Người đứng đầu dự án là Phạm Khắc Thành, một doanh nhân có tiếng tăm. Ông ta không sinh ra trong giàu có, mà ngược lại. Thuở nhỏ, ông từng là đứa trẻ bán bánh mì ở ga Tháp Chàm, từng ngủ dưới gầm xe tải, từng đi phụ hồ, từng trải qua những ngày đói khát đến cùng cực. Chính vì đã quá hiểu cái đói nên ông ta đặt niềm tin tuyệt đối vào sức mạnh của đồng tiền.
Thành có một câu chuyện chưa từng nhắc đến trong bất kỳ cuộc phỏng vấn nào. Năm mười hai tuổi, mẹ ông qua đời giữa một mùa hạn khắc nghiệt. Hôm đó, trong nhà không còn nổi một lon gạo. Người đàn bà gầy guộc đến mức hai cổ tay chỉ còn như những nhánh củi khô. Buổi sáng bà vẫn còn ngồi vá áo cho con, vậy mà đến chiều đã lặng lẽ nằm xuống.
Trước khi nhắm mắt, bà lấy từ trong túi áo ra một đồng tiền cũ đã mòn gần hết hình.
Bà đặt vào tay Thành.
— Giữ lấy.
Đó là tài sản cuối cùng của bà.
Nhiều năm sau, khi đã sở hữu hàng ngàn tỷ đồng, ông vẫn giữ đồng tiền ấy trong ngăn kéo bàn làm việc. Mỗi lần nhìn nó, ông lại nhớ rằng trên đời này có những người chết không phải vì chiến tranh, không phải vì bệnh tật. Mà vì nghèo.
Trong một buổi họp dân, Thành đứng trước đám đông và nói:
— Người nghèo thường thích nói về truyền thống vì họ không có gì khác để giữ.
Cả hội trường im lặng.
Ông ta tiếp:
— Tôi không phá văn hóa. Tôi đang biến văn hóa thành tiền. Có tiền rồi mới giữ được văn hóa.
Nhiều người vỗ tay. Một số người cúi đầu. Harei ngồi cuối hội trường. Anh không ghét ông ta. Thậm chí anh còn hiểu ông ta. Đó mới là điều khiến anh khó chịu.
*
Ít lâu sau, bản quy hoạch chính thức được công bố. Một tuyến đường ven biển mới sẽ cắt ngang khu Kut cổ của ba dòng họ Chăm. Một quảng trường lớn dự kiến dựng lên ngay trên nền nghĩa địa xưa. Còn một phần đất bao quanh đền thờ Po Inư Nưgar của địa phương sẽ được chuyển thành khu dịch vụ.
Người dân phản đối. Đơn thư liên tiếp được gửi đi. Những cuộc họp diễn ra hết lần này tới lần khác. Mỗi bên đều đưa ra những lý lẽ riêng, nghe qua ai cũng thấy có phần đúng.
Suốt ba tuần liền, Harei gần như chẳng mấy khi có mặt ở nhà. Ban ngày, anh chạy xe máy từ làng này sang làng khác, mang theo xấp hồ sơ dày cộm để vận động chữ ký. Những người ký tên nhiều nhất lại là các cụ già. Một cụ mắt đã mờ, phải lần từng nét bút trên giấy. Một người khác run tay tới mức ký xong mực lem thành một vệt dài.
Chiều hôm ấy, một bà cụ gần chín mươi tuổi gọi anh vào nhà. Bà lấy từ chiếc rương gỗ cũ ra một bọc vải bạc màu. Bên trong vài mẩu xương nhỏ đã ngả vàng.
Bà nói:
— Ông nội tôi.
Harei giật mình.
Bà cụ cười buồn.
— Hồi chiến tranh, mộ bị bom đánh trúng. Nhà nghèo quá, không cải táng được. Tôi giữ lại chừng này thôi.
Bà đặt mấy mẩu xương vào tay anh.
Nhẹ đến mức tưởng như không có trọng lượng.
— Mấy người trên tỉnh nói đất này chỉ là đất. Cậu học nhiều. Cậu nói giùm tôi coi. Nếu đây chỉ là đất, vậy thứ tôi giữ tám chục năm nay là gì?
Suốt quãng đường về, Harei không nói một lời. Bàn tay cầm tay lái của anh vẫn còn cảm giác khô nhẹ của những mẩu xương già hơn cả tuổi đời mình.
Buổi chiều nọ, Harei tìm gặp Thành. Hai người ngồi trong văn phòng tầng mười sáu nhìn xuống biển Ninh Chữ.
Biển xanh tới mức tưởng như vô tội.
Thành rót trà.
— Cậu học văn hóa. Tôi học cuộc đời. Hai đứa mình khác nhau ở đó.
Harei cười.
— Chúng giống nhau hơn ông nghĩ.
— Vậy cậu nói thử coi.
— Tôi cũng muốn dân mình khá lên.
— Tốt.
— Nhưng tôi không muốn phải đào ông bà lên để đổi lấy khách sạn.
Thành đặt chén trà xuống.
Ánh mắt ông ta chợt sắc lại.
— Người chết không ăn cơm.
Thành ngừng một lúc.
Rồi nói tiếp bằng giọng rất thấp.
— Tôi đã từng nhìn người sống chết vì không có cơm ăn.
Căn phòng im bặt.
Ngoài cửa kính, một đàn chim biển bay ngang. Bóng chúng lướt qua mặt hai người như những vết mực đen.
*
Mùa Katê năm ấy đến trong gió lớn. Người Raglai từ núi xuống mang lễ vật. Trống Ginăng vang lên dưới chân tháp Po Klong Garai. Những điệu múa xoay tròn trong nắng. Khách du lịch chen kín. Điện thoại giơ lên khắp nơi.
Giữa tiếng trống đang dồn lên cao, Harei bất chợt nhận ra có gì sai. Tay người nghệ nhân đập trống vẫn nhịp nhàng, nhanh, dồn theo điệu múa đang xoay trên sân. Nhưng âm thanh phát ra từ mặt trống lại đi một nhịp khác, chậm hơn, trầm hơn, như tiếng trống của một đám rước nào đó từ rất lâu, bị kẹt lại trong chính mặt da trống này. Harei nhìn quanh. Không ai khác có vẻ nghe thấy điều đó. Người ta vẫn múa theo nhịp tay, nhịp mà chính tai anh không còn nghe ra nữa.
Anh hỏi người đứng cạnh:
— Anh có thấy trống bị lệch nhịp không?
Người ấy lắc đầu, cười:
— Trống hay vậy mà, lệch gì.
Tối hôm ấy, Harei mở điện thoại, bật lại đoạn video mình quay lúc làm lễ. Trên màn hình, tay người nghệ nhân gõ trống đúng nhịp như mọi năm. Nhưng khi vặn âm lượng lớn nhất, dưới tiếng trống quen thuộc, vẫn còn một tiếng trống khác, rất nhỏ, gõ chậm hơn, đều đặn, như từ dưới đất vọng lên.
Đêm đó, Harei mơ thấy một đoàn người đang chạy. Đàn bà cõng con. Đàn ông mang kiếm gãy. Những chiếc xe bò chất đầy tượng thần và hộp gỗ. Đoàn người đi về phía núi. Phía sau là lửa đỏ kín chân trời.
Một người quay lại nhìn anh. Khuôn mặt ấy quen đến lạ lùng. Giống tượng Po Rome trong đền tháp. Lúc lại giống người cha đã mất của Jaya. Rồi chỉ trong nháy mắt, nó trở thành khuôn mặt của chính anh.
Ông hỏi:
— Con nghĩ mất nước đau hơn hay mất ký ức đau hơn?
Harei chưa kịp trả lời.
Cả giấc mơ đã vỡ tan.
*
Một tháng sau, máy xúc bắt đầu tiến vào khu Kut. Dân làng nghe tin kéo tới đông nghịt. Từ sáng sớm, tiếng đôi co đã vang lên khắp nơi, người nói qua kẻ nói lại không ai chịu nhường ai. Đến gần trưa thì tình hình căng thẳng hơn, xảy ra xô đẩy giữa hai bên, một cụ già bị hất ngã xuống đất, còn mấy người phụ nữ vì quá hoảng loạn mà ngất lịm giữa đám đông.
Khi chiếc máy xúc đầu tiên tiến đến mép khu Kut, Harei bất ngờ bước ra chắn phía trước. Không ai nghĩ anh sẽ làm vậy.
Một cán bộ huyện nhận ra anh.
— Anh Harei, tránh ra.
Anh đứng yên.
— Cho tôi một ngày.
— Không thể.
— Một ngày thôi. Để người dân dời những gì còn lại.
Người kia lắc đầu.
— Quyết định đã ký rồi.
Gió thổi qua bãi đất. Trong đám đông, không ai nói gì.
Harei nhìn những ngôi mộ thấp lẫn trong cỏ dại. Anh biết mình không thể ngăn nổi dự án. Anh cũng biết mình đang đứng trước một cỗ máy lớn hơn rất nhiều so với bản thân. Nhưng nếu ngay cả việc đứng lại một lần anh cũng không làm, thì suốt phần đời còn lại, anh sẽ không biết phải trả lời tổ tiên thế nào.
Trong đám đông phía sau, Jaya đứng lặng giữa những người phụ nữ đang khóc. Cô không gọi tên anh. Tay cô siết chặt một cuộn chỉ đỏ mang theo từ khung cửi, thứ duy nhất cô vô tình cầm theo khi nghe tin rồi chạy ra khỏi nhà. Mãi sau cô mới nhận ra mình đã siết đến mức sợi chỉ cắt vào lòng bàn tay. Cuối cùng lực lượng bảo vệ bước tới đưa anh sang một bên. Anh không chống cự. Từ lúc ấy, anh biết mình đã mất con đường quay lại.
Rồi một chiếc máy xúc từ từ hạ gầu xuống, bắt đầu đào sâu vào lòng đất. Gầu sắt vừa cắm mạnh xuống lớp đất bên dưới.
Bất chợt, một luồng gió lạ nổi lên. Gió không dữ dội, cũng chẳng cuốn bụi mù trời, nhưng lạnh ngắt như hơi lạnh từ nghĩa địa thổi về. Ngay lúc đó, phần đất dưới hố đào đột nhiên sụp xuống.
Từ khoảng đất vừa sạt lở, hàng trăm vật thể nhỏ trắng nhợt ào ra như dòng nước vỡ bờ. Chúng vừa giống cát, vừa giống những mảnh xương vụn. Tất cả mọi người đứng sững, không ai nói nổi một lời. Những mẩu xương bé bằng đồng xu lăn lóc khắp mặt đất.
Lách cách.
Lách cách.
Lách cách.
Âm thanh khô khốc ấy vang lên giữa không gian im phăng phắc, khiến cả đám đông lạnh buốt sống lưng.
Một bà lão bật khóc. Bà quỳ xuống nhặt từng mảnh.
Miệng run run:
— Người nhà tôi…
— Người nhà tôi…
Jaya cũng cúi xuống giữa đám đông. Cô không nhặt cho riêng mình một mẩu xương nào. Cô chỉ lặng lẽ xin lại sợi chỉ đỏ đã dính bụi trắng rơi ra từ hố đất, thứ bụi mà không ai khác để ý tới. Đêm đó, cô ngồi một mình bên khung cửi rất lâu, dệt thêm một đường chỉ trắng đục, mờ như sương, len giữa hai đường chỉ đỏ quen thuộc. Cô không nói cho ai biết vì sao.
*
Kể từ sau hôm đó, những chuyện kỳ lạ bắt đầu liên tiếp xảy ra. Vào ban đêm, không ít công nhân quả quyết rằng họ nghe thấy tiếng đàn Kanhi văng vẳng vọng về từ bãi đất trống, âm thanh lúc gần lúc xa như có ai đang ngồi kéo đàn giữa màn đêm. Buổi sáng, vài công nhân ra công trường sớm còn bắt gặp những vật nhỏ rải trên nền đất mới đổ. Những hình tượng bé bằng ngón cái nắn từ đất sét chưa nung: thần Siva gãy tay, rùa đá đội bia, chum gốm nứt miệng, đúng hình những phế tích từng nằm rải quanh khu Kut. Không ai mang đất sét vào công trường bao giờ. Vậy mà những hình ấy còn mềm, còn ẩm, như vừa được nắn xong chỉ vài giờ trước.
Một công nhân đang ngủ say giữa đêm bỗng choàng tỉnh vì ngực lạnh buốt, như có ai vừa áp một bàn tay ướt lên đó. Anh bật đèn điện thoại soi lên áo mình. Giữa ngực qua lớp áo, hiện rõ một dấu bàn tay người lớn, năm ngón xòe rộng, màu đỏ sậm như đất sét pha máu, ướt và lạnh. Anh giặt áo cả buổi sáng hôm sau. Dấu tay mờ đi nhưng không biến mất hẳn, ngả màu nâu đỏ rất nhạt, y hệt màu đất bãi Kut. Tin đồn theo đó lan đi khắp nơi, nhanh chẳng khác gì gió cuốn qua đồng trống. Người ta bắt đầu e dè, lo sợ và bàn tán không ngớt, nhưng nỗi sợ cuối cùng vẫn không thắng nổi sức hút của đồng tiền. Công trình vì vậy vẫn tiếp tục được tiến hành như chưa hề có chuyện gì xảy ra.
Đêm ấy, Thành ở lại văn phòng rất muộn. Ngoài cửa kính, biển Ninh Chữ đen đặc. Ông mở ngăn kéo. Đồng tiền cũ vẫn nằm đó. Theo thói quen, ông cầm nó lên. Bất chợt ông nhận ra mặt đồng tiền đã đổi màu. Một lớp bụi trắng mỏng bám quanh mép. Thành cau mày, lấy khăn lau. Lớp bụi không mất đi. Nó giống hệt màu của những mẩu xương vừa đào lên khỏi khu Kut. Lần đầu tiên sau nhiều năm, tay ông run nhẹ. Ông lập tức đặt đồng tiền trở lại ngăn kéo rồi đóng sập lại. Nhưng suốt đêm hôm ấy, ông không mở ra thêm lần nào nữa.
Sáng hôm sau, ông vẫn ký phê duyệt tiến độ thi công như không có gì xảy ra. Có điều, từ ngày đó, ông không còn ngồi quay mặt ra biển Ninh Chữ nữa. Bàn làm việc được xoay sang một góc khác, dù không ai trong công ty hiểu vì sao.
*
Riêng Harei thì không ngủ được. Anh bắt đầu nghe tiếng nói. Chắc là không phải tiếng người sống. Tiếng họ tranh cãi vọng lên từ rất sâu. Tiếng nói vọng lên từ rất sâu. Giống tiếng người già. Lúc là tiếng trẻ con. Lại như tiếng chính anh đang nói trong một căn phòng trống rỗng nào đó. Anh không biết chúng từ đâu tới. Họ cãi nhau dữ dội.
Một giọng già nua quát:
— Vì các ngươi yếu nên mới mất nước.
Một giọng khác bật lại:
— Vì các ngươi tham quyền nên mới mất nước.
Một giọng thứ ba cười nhạt:
— Đừng đổ lỗi nữa. Người chết thích đổ lỗi nhất.
Rồi tất cả quay sang Harei.
— Còn ngươi?
— Ngươi đứng về phía nào?
Anh không trả lời được. Bởi lần đầu tiên trong đời, anh nhận ra mình đang bị xé làm đôi. Một nửa muốn bảo vệ quá khứ. Một nửa hiểu rằng người trẻ cần tương lai.
*
Bi kịch rồi cũng bất ngờ ập xuống gia đình anh. Một cơn đột quỵ đến quá nhanh đã cướp mất mẹ anh chỉ trong khoảnh khắc, nhanh đến mức bà không kịp để lại cho con cháu một lời dặn dò hay trăn trối cuối cùng nào.
Lễ hỏa táng được tổ chức trên bãi đất đã gắn bó với gia đình từ bao năm nay. Ngọn lửa chậm rãi bốc cao giữa tiếng tụng kinh trầm đều vang vọng. Những làn khói mỏng lặng lẽ cuộn lên, rồi tan dần vào khoảng trời chiều đang chuyển sang sắc tím sẫm.
Trước khi ngọn lửa được nhóm lên, Jaya mang tới một tấm vải mới dệt, gấp gọn gàng và cẩn thận. Trên nền vải, đường chỉ trắng đục nằm lặng giữa hai vệt đỏ như một dấu ấn âm thầm. Cô nhẹ nhàng phủ tấm vải lên người mẹ chồng mà không nói một lời nào. Harei nhìn thấy, liền nhận ra đó chính là đường chỉ cô đã lặng lẽ thêm vào từ đêm bãi đất bị đào xới.
Đến khi vị chủ lễ dùng dụng cụ gắp phần xương sọ còn lại ra khỏi lò lửa để chuẩn bị cho những nghi thức kế tiếp, Harei bỗng bật khóc. Nước mắt cứ vậy trào ra, không thể kìm lại được.
*
Đêm về anh lại mơ. Trên cánh đồng cát rộng vô tận, những vị vua Chăm, những người thợ gốm, những người dệt vải, những chiến binh, những đứa trẻ, tất cả đứng thành một hàng dài nhìn về phía biển.
Một người đứng ở đầu hàng. Harei không nhìn rõ mặt.
Ông hỏi:
— Ngươi có biết vì sao một dân tộc còn tồn tại không?
Harei lắc đầu.
Người ấy không đáp. Ông quỳ xuống, úp hai tay vào cát ẩm, nắn thành hình một chiếc nồi nhỏ, giống hệt những chiếc nồi mẹ Harei vẫn nắn bên sông Quao. Một con sóng tràn lên, cuốn phẳng hình chiếc nồi trong tức khắc. Ông không cau mày. Ông cúi xuống, nắn tiếp một chiếc khác, ngay tại chỗ cũ. Phía sau ông, cả hàng người dài cũng lặng lẽ cúi xuống, mỗi người vạch một dấu gì đó xuống cát bằng đầu ngón tay, ngay trước mép sóng sắp tới. Sóng tràn lên. Mọi dấu vạch biến mất. Tất cả lại cúi xuống, vạch tiếp, không một ai dừng lại, không một ai than.
Harei đứng nhìn, hai tay tự nhiên nắm chặt, như thể đang giữ một thứ gì đó đang chảy ra khỏi kẽ tay.
*
Nửa năm sau, Harei xin thôi việc. Anh dành toàn bộ thời gian để mở một trung tâm nhỏ, nơi dạy chữ viết, lịch sử và văn hóa Chăm cho đám trẻ trong vùng.
Jaya vẫn đều đặn ngồi bên khung cửi mỗi ngày. Trong mỗi tấm thổ cẩm mới, luôn có một đường chỉ trắng đục chạy lặng giữa những đường chỉ đỏ, đen. Không ai hỏi. Cô cũng không giải thích. Nhưng riêng cô biết mình đang dệt ai vào trong đó. Harei thì tiếp tục làm gốm đem bán như trước. Thu nhập chẳng còn được bao nhiêu so với những ngày cũ, ít đi thấy rõ, đổi lại những giấc ngủ ban đêm trở nên yên ổn hơn.
Một buổi sáng, Harei tình cờ gặp lại Châu, bạn học cũ ở Bàu Trúc, giờ mặc đồng phục bảo vệ đứng gác cổng khu nghỉ dưỡng xây ngay trên nền khu Kut năm nào. Châu cười gượng, hỏi thăm vài câu rồi vội cúi đầu chào một đoàn khách đang bước ra. Lúc quay lại, Châu nói nhỏ, như sợ ai nghe thấy:
— Mẹ tao chạy thận. Tao không có quyền chọn như mày.
Harei không biết trả lời sao. Anh chỉ gật đầu, rồi dắt xe đi, trong lòng nặng hơn cả lúc bước ra từ đám tang mẹ mình.
Nhiều người nhìn vào rồi lắc đầu, bảo anh dại. Họ không hoàn toàn sai. Harei biết rõ hơn ai hết: anh giữ được là vì anh còn có những gì, để mất ít hơn người khác. Một người vợ dệt giỏi, một nghề gốm còn bán được, một căn nhà chưa phải mang đi cầm cố. Khôn hay dại, suy cho cùng, đôi khi chỉ là cách gọi khác của ai còn đủ sức để chọn, và ai thì không.
*
Mười năm sau.
Khu nghỉ dưỡng ven biển vẫn đông khách. Những tòa nhà mới vẫn mọc lên. Nhiều con đường mới xuất hiện.
Phạm Khắc Thành vẫn là một trong những người giàu nhất vùng. Nhưng đã mười năm nay, không ai còn thấy ông bước vào căn phòng tầng mười sáu nhìn ra biển Ninh Chữ. Người ta nói ông chuyển văn phòng sang một tòa nhà khác, quay lưng hẳn về phía khu Kut cũ. Trong ngăn kéo bàn làm việc mới của ông, không ai biết có còn đồng tiền ấy hay không.
Một buổi chiều, khi dẫn đám trẻ lên tháp Po Klong Garai, Harei nhìn thấy một cậu bé đang cúi xuống nhặt vật gì đó trong cỏ. Nó chạy lại. Mở bàn tay ra. Một mảnh xương nhỏ bằng đồng xu nằm giữa lòng bàn tay non nớt.
Cậu bé hỏi:
— Thầy ơi, cái này là tiền hả?
Harei nhìn rất lâu.
Rồi anh lắc đầu.
— Không.
— Đây là thứ đắt hơn tiền nhiều.
Cậu bé chưa kịp hỏi tiếp thì gió từ biển đã thổi lên đồi. Mang theo tiếng cát chạy rào rạo giữa những khe đá, nghe như có ai đó đang cười, cũng giống như đang khóc.
]]>
BIẾN TẤU SƯƠNG MÙ NÃO 1, 2, 3 – Trần Thị NgH
60cm x 80 cm
Sơn dầu trên vải bố
BÀI TRONG TUẦN
Tháng Chín – Ký của Nguyễn Đức Tùng
Hồ Trường Ký Ức – Biên khảo của Ngô Tấn Tuân
Vương Quốc Không Chịu Chết – Truyện ngắn của Nguyễn Đông A
Bài Viết Cuối Cùng Của Gloria Steinem – Đặng Thơ Thơ chuyển ngữ